Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Liên kết web

Tiện ích

Thăm dò ý kiến

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

1
5
3
9
7
3
6

SỐ LƯỢT ĐANG ONLINE

0
0
0
0
1
4
6
Chính trịThứ 5, Ngày 23/07/2015, 15:20

Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 về Đông Dương (20/7/1954 – 20/7/2015), một mốc son mới trong đấu tranh vì hòa bình, độc lập, thống nhất của dân tộc ta

Cách đây 61 năm, lúc 16 giờ 30 phút, ngày 8/5/1954, Hội nghị Genève về Đông Dương đã được khai mạc. Tham dự Hội nghị có 9 đoàn đại biểu, trong đó có 3 đoàn của các nước xã hội chủ nghĩa: Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam Dân chủ cộng hòa; 3 đoàn phương tây: Pháp, Anh, Mỹ; 3 quốc gia liên kết trên bán đảo Đông Dương: Lào, Campuchia và "quốc gia" Bảo Đại (lực lượng kháng chiến Lào và Campuchia không được mời tham dự Hội nghị).

Cuộc đàm phán dài ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 07/5/1954, Hội nghị Genève bàn về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương diễn ra từ ngày 08/5 đến 21/7/1954 Hiệp định được ký kết, với 31 phiên họp, trong đó 7 phiên toàn thể, 24 phiên họp cấp trưởng đoàn.

Có 9 đoàn tham dự Hội nghị: Đoàn Liên Xô do Bộ trưởng ngoại giao Viacheslav Molotov dẫn đầu; Đoàn Trung Quốc do Thủ tướng Chu Ân Lai dẫn đầu; Đoàn Hoa Kỳ do Ngoại trưng Bedell Smith dẫn đầu; đoàn Anh do Ngoại trưởng Anthony Eden dẫn đầu; đoàn Pháp do Ngoại trưởng Giorges Bidault dẫn đầu; đoàn Việt Nam có đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa do Thủ tướng chính phủ Phạm Văn Đồng dẫn đầu; Đoàn đại diện của chính quyền Bảo Đại; Đoàn Chính phủ Vương quốc Lào và đoàn Chính phủ vương quốc Campuchia. Đáng chú ý do những tranh luận còn chưa thống nhất, nên trong thành phần của đoàn Việt Nam đi Gienève có Nouhak, đại diện Phathet Lào và Keo Ma-ny, đại diện cho Khơmer Itrarak, mang hộ chiếu Việt Nam.

Lập trường của Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,  do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu là căn cứ vào tình hình thực tế nhằm đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương trên cơ sở Pháp phải công nhận độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia; cô lập bọn chủ chiến ở Pháp và bọn can thiệp Mỹ, làm cho nhân dân Pháp thấy chính phủ Pháp lúc bấy giờ do Laniel làm Thủ tướng là lực lượng hiếu chiến cần phải thay đổi thì Hội nghị Giơ-ne-vơ mới thu được kết quả. Đồng thời, tranh thủ sự đồng tình rộng rãi cả trong và ngoài Hội nghị cùng trên diễn đàn quốc tế tại Pháp.

Với dã tâm của một số nước phương Tây, nhất là Mỹ muốn kéo dài chiến tranh, độc chiếm miền Nam Việt Nam – nơi có nhiều tiềm năng kinh tế - nên các đoàn đại biểu các nước phương Tây và đoàn đại biểu Mỹ đã tính đến âm mưu kéo dài và mở rộng chiến tranh ở Đông Dương, hất cẳng Pháp và chiếm Đông Dương. Đoàn đại biểu Anh thì chủ trương chống âm mưu kéo dài chiến tranh của Mỹ, ủng hộ Pháp thương lượng trên thế mạnh. Phái chủ chiến của Pháp Laniel nhận đàm phán với ta để tránh búa rìu dư luận và tránh bị nhân dân Pháp lật đổ, đồng thời cứu nguy cho quân đội Pháp ở Đông Dương. Do lập trường của các bên hữu quan, từ ngày khai mạc cho đến hết ngày 19/6/1954, Hội nghị tiến triển chậm chạp. Đoàn Pháp và đoàn Mỹ bị ba đoàn Việt Nam - Liên Xô và Trung Quốc kịch liệt lên án về chủ tâm phá hoại hội nghị. Đây là những thời khắc mà cuộc đấu trí ngoại giao đã rất căng thẳng hàng ngày, sau hơn một tháng từ khi khai mạc.

Theo đồng chí Nguyễn Minh Phương, thư ký riêng cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, trong phiên họp thứ hai, ngày 10/5/1954, Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng đã đưa ra đề nghị 8 điểm nổi tiếng và có ảnh hưởng rất lớn trong nhân dân các nước, nhất là nhân dân Pháp. Hai đồng Chủ tịch Hội nghị   Ngoại trưởng Anthony Eden của Vương quốc Anh và Bộ trưởng ngoại giao Viacheslav Molotov của Liên Xô cho rằng đề nghị của Việt Nam có tính chất xây dựng và đồng ý lấy hai bản đề nghị của Việt Nam và của Pháp làm cơ sở để thảo luận, đi đến thống nhất các vấn đề thảo luận trong những ngày bàn kế tiếp.

Từ ngày 20/6/1954 trở đi cuộc đàm phán diễn ra nhiều sự kiện tác động lớn đến chiều hướng vận động của Hội nghị Giơnevơđó là: Quân viễn chinh Pháp bị sa lầy lớn trên chiến trường Đông Dương, dẫn đến sự thay thế nội các Pháp; Chính quyền Mỹ bắt đầu triển khai kế hoạch thay thế Pháp ở Đông Dương; Thủ tướng mới của Pháp Menđét Phơrăngxơ và Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai gặp nhau tại Bécnơ (Thụy Sĩ ngày 23/6/1954) bàn về vấn đề phân vùng, thống nhất Việt Nam, vấn đề Lào và Campuchia, trong cuộc gặp hai bên đã đạt được giải pháp khung cho toàn bộ vấn đề Đông Dương như: chia cắt Việt Nam; hai miền Việt Nam cùng tồn tại hòa bình, giải quyết vấn đề quân sự trước; tách rời giải quyết 3 vấn đề Việt Nam, Lào, Campuchia.

Tuy nhiên phía Trung Quốc nhìn nhận 3 nước này trong khối Liên hiệp Pháp và muốn Lào, Campuchia sẽ có bộ mặt mới ở Đông Nam Á như Ấn Độ, Inđônêxxia, do đó họ yêu cầu Mỹ không có căn cứ quân sự ở Đông Dương, những điểm mà những lãnh đạo Trung Quốc (lúc đó) đã thỏa thuận với Pháp phù hợp với giải pháp 7 điểm của Anh- Mỹ đưa ra  ngày 29/6/1954, tức là 6 ngày sau cuộc tiếp xúc giữa Thủ tướng Pháp Menđét Phơrăngxơ và Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai. Kết thúc giai đoạn này, Pháp cũng tỏ ý muốn đàm phán trực tiếp với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để giải quyết các vấn đề cụ thể giữa 2 nước.

Tại Sài Gòn, lúc này Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm về làm Thủ tướng để thay cho Bửu Lộc trước đó nằm dưới quyền Bảo Đại. Đây là âm mưu vừa trước mắt, vừa lâu dài để Mỹ đứng chân tại miền Nam Việt Nam, mà Trung ương Đảng đã nhận thức rõ.

Cuộc đàm phán càng đi vào giai đoạn trong càng phức tạp mà hai bên phải đấu tranh trực diện. Từ ngày 10 - 20/7/1954 là giai đoạn cuối cuộc đàm phán, do đó các đoàn làm việc rất khẩn trương, tranh thủ những vấn đề then chốt để giải quyết những vấn đề phức tạp giữa hai phía. Về những dự định cho cuộc đình chiến ở Lào và Campuchia, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, trưởng đoàn Việt Nam đã đấu tranh quyết liệt, nhưng cân bằng trên bàn đàm phán chưa có lợi cho ta, do đó trong Hội bàn, hai bên thống nhất giành được khu tập kết cho quân và dân Phathet Lào ở 2 tỉnh, mà không đạt được việc điều chỉnh cho Khơme Itsarak tại vùng đóng quân.

Vấn đề được bàn cãi nhiều nhất là thời hạn phân chia cho giới tuyến phân vùng của Việt Nam. Theo giai đoạn cuối cùng của cuộc đàm phán, thì giới tuyến phân vùng và thời hạn tuyển cử, đoàn Việt Nam kiên trì vĩ tuyến 16 và tổng tuyển cử phải tiến hành sớm. Vào sáng ngày 19/7/1954, cả 3 đoàn Việt Nam, Liên Xô, Trung Quốc thống nhất đưa cho đoàn Pháp phương án cuối cùng giới tuyến đi qua đường vĩ tuyến. Phương án này được đoàn Việt Nam gợi ý từ tháng 6/1954, nhưng phía Pháp vẫn đòi vĩ tuyến 18 (tức giáp tỉnh Quảng Bình-Hà Tĩnh). Sau đó, tại cuộc họp đêm 20/7/1954, 5 trưởng đoàn của các nước: Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam vào phút chót mới thỏa thuận được lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến phân vùng, và thời hạn tổng tuyển cử ấn định là 2 năm sau khi ký xong Hiệp định Genève.

Những bài học và ý nghĩa của Hiệp định Genève

Một là, Kết quả Hiệp định Genève so với giải pháp 8 điểm mà chúng ta đưa ra từ ban đầu có khoảng cách đáng kể, thậm chí còn chứa đựng nhiều hạn chế, nhưng tương quan lực lượng dân tộc ta, và những vấn đề “tế nhị” khi đoàn Trung Quốc bắt tay đoàn Pháp và đoàn Mỹ đã đưa đến những khoảng cách và hạn chế không thể tránh khỏi trong thời điểm lịch sử cụ thể này.

          Mỗi lần phải nhân nhượng, thỏa hiệp Đoàn Việt Nam đều cân nhắc kỹ, thực hiện “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, kiên định về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược, luôn giữ đúng mục tiêu mà Đảng ta đề ra. Những mục tiêu ta chọn đã được bảo đảm nghiêm ngặt, Pháp, Trung Quốc và các nước lớn khác phải công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là: độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất nước nhà, điều mà 9 năm trước tại Hiệp định sơ bộ 06/3/1946, Pháp không chịu công nhận, mới chỉ công nhận Việt Nam là nước tự do, nên không tạo được cơ sở pháp lý lâu bền, Việt Nam phải chấp nhận để Pháp đưa quân ra miền Bắc.

          Kết quả lớn nhất, là từ Hiệp định Genève các nước Pháp, Trung Quốc và các nước phải công nhận trọn vẹn các quyền dân tộc cơ bản, đây chính là mục tiêu  ta lựa chọn, tạo cơ sở về pháp lý và cả về đạo lý để nhân dân ta để nhân dân ta đấu tranh chống Mỹ suốt hơn hai thập kỷ sau đó; Đây là cơ sở để đoàn kết nhân dân Đông Dương trong sự nghiệp chung đi đến độc lập hòa bình cho miền Nam Việt Nam, cùng nhân dân hai nước bạn Lào và Campuchia. 

          Bài học lớn thứ 2 là, không được mơ hồ về mục tiêu, lợi ích và ý đồ chiến lược của đồng minh, của các nước lớn, ngay cả khi có nước lớn cùng chung chế độ xã hội chủ nghĩa cùng chúng ta. Đây là sự thực lịch sử mà trong đấu tranh của cuộc Kháng chiến chng Mỹ 21 năm tiếp theo Đảng ta, Chính phủ ta đã rất mềm mỏng, khôn khéo lựa chọn những thời điểm ngoại giao để cuộc đấu tranh thu được thắng lợi toàn vẹn. 

          Ba là, bài học mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng ta rất tỉnh táo, sắc bén, nắm bắt thấu đáo tình hình và xác định mục tiêu, lợi ích quốc gia có sức chi phối rất lớn đối với lập trường, quan điểm của lãnh đạo Trung Quốc về vấn đề Đông Dương. Từ đó, chúng ta đã bình tĩnh trước những chủ trương do lãnh đạo Trung Quốc tự ý dàn xếp với các nước tư bản, đế quốc tham dự Hội nghị, mặt khác chúng ta vừa tích cực, linh hoạt, kiên trì đấu tranh, giữ vững quan điểm lập trường, tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế; đồng thời Đảng ta đã chủ động, kiên quyết tránh để các nước lớn đặt chúng ta trong chính sách, chiến lược của họ để họ hưởng lợi qua con đường ngoại giao.

Bốn là, bài học về cách khéo léo xử lý đúng mối quan hệ giữa thế và lực, chú trọng tăng cường thực lực đất nước, tạo cơ sở vững chắc hoạt động đối ngoại, bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước trong hoàn cảnh lúc bấy giờ.

Thực tế là sau khi thực dân Pháp thất bại tại Điện Biên Phủ, cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền không chỉ giới hạn trong lĩnh vực quân sự, mà còn diễn ra đồng bộ và rộng khắp trong các mặt trận chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, văn hóa, học thuật… Vì thế, phát triển thực lực cần phải phải lưu ý phát triển đồng bộ trong tất cả các lĩnh vực này. Thực lực cũng không nên chỉ được xét đơn thuần ở khía cạnh vật chất, mà cần bao gồm cả những yếu tố tinh thần như truyền thống lịch sử, tinh thần ái quốc, nghệ thuật quốc phòng toàn dân, những bài học dựng nước và giữ nước mà cha ông để lại. Chính những yếu tố tinh thần này đã giúp chúng ta bao phen vượt qua những kẻ thù mạnh gấp bội trong lịch sử, xứng đáng là một yếu tố quan trọng để chúng ta chiến thắng những đế quốc sừng sỏ hơn.

Năm là, tích cực, chủ động vừa hợp tác, vừa đấu tranh trong quan hệ với đồng minh, các nước lớn, chú trọng đối thoại và hợp tác, giữ vững ổn định, tự chủ và cùng phát triển giữa các quốc gia.

          Thực tiễn tại Hội nghị Genève, dù rất nhiều khó khăn trong bất đồng quan điểm các đoàn, chúng ta đã vượt lên trên mọi khuôn mẫu mang tính giáo điều của tư duy và hoạt động đối ngoại phân phe, phân tuyến rất đặc trưng của thời kỳ chiến tranh lạnh, phương châm kết hợp hợp tác và đấu tranh đã được Đảng ta vận dụng đầy hiệu quả trong và sau Hội nghị Genève, đã sáng tạo ra phong cách đặc sắc, linh hoạt, đầy chủ động của nền ngoại giao Việt Nam, nghệ thuật ngoại giao Việt Nam.

          Chính từ Hội nghị Genève sau đó 24 năm vào năm 1968 Đoàn đại biểu chính phủ Việt Nam tiếp tục ngồi vào bàn đàm phán Hội nghị Paris với một phong thái, bản lĩnh đầy tự tin, sáng tạo của chiến thắng, để 5 năm sau đó, ngày 27/01/1973 Hội nghị Paris kết thúc, đưa đến bàn hội nghị một bản Hiệp định Paris đầy tự tin và sáng tạo, chiến thắng của dân tộc Việt Nam, nghệ thuật ngoại giao Việt Nam.

 

Lễ ký các bên tại Hội nghị Genève

 

Vĩ tuyến 17 – nơi tạm thời chia cắt đất nước ta

Quang cảnh Hội nghị Genève về Đông Dương

 Thạc sĩ Phạm Bá Nhiễu


Số lượt người xem: 5Bản in Quay lại
Xem theo ngày:
Bình Thạnh - Phối hợp tổ chức triển lãm bộ ảnh “50 năm vững bước theo Người”
Kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; kỷ niệm 74 năm ngày Cách mạng tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2019) và Quốc khánh nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2019). Sáng ngày 14/8/2019, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Uỷ ban nhân dân quận phối hợp tổ chức triển lãm bộ ảnh “50 năm vững bước theo Người” bộ ảnh Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Quận 4 tổ chức Hội thi tìm hiểu 50 năm thực hiện Di chúc Chủ Tịch Hồ Chí Minh
Kết quả Hội thi: tập thể đơn vị Phường 8 đạt giải nhất; giải nhì tập thể đơn vị Phường 12; giải ba tập thể đơn vị Phường 3 và Phường 6; giải khuyến khích gồm: tập thể đơn vị Phường 10, Phường 15 và Công ty TNHH MTV Dịch vụ Công ích Quận 4; giải phong trào tập thể đơn vị Phường 5.
Hội thi “Nhớ lời Di chúc theo chân Bác” năm 2019
Tham gia Hội thi có 12 đội là cán bộ Mặt trận, lực lượng cán bộ Đoàn, đoàn viên, thanh niên, hội viên Hội Cựu chiến binh, công đoàn viên cơ sở đang làm việc và sinh sống trên địa bàn quận Tân Phú. Các đội thi trải qua các nội dung như: phần thi tự giới thiệu, phần thi trắc nghiệm và phần thi kể chuyện gương sáng về Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong đội ngũ cán bộ Mặt trận, cán bộ Đoàn, cán bộ Hội, hội viên, công đoàn viên và nhân dân.
Quận 7 tổ chức hành trình về nguồn “Theo dấu chân Người”
Đoàn cán bộ Ủy ban MTTQVN Quận 7 đã tổ chức dâng hương dâng hoa báo công với Bác về tổ chức thành công Đại hội Đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Quận 7 và 10 phường nhiệm kỳ 2019 - 2024 tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Đoàn đã tham quan tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; tham quan tìm hiểu di tích Trường Dục Thanh, đây là ngôi trường Bác đã dừng chân dạy học một thời gian trước khi vào Sài Gòn trong chuyến xuất ngoại tìm đường cứu nước
Văn bản mới cập nhật
Hướng dẫn số 13/HD-UBMT-BTT ngày 26 tháng 11 năm 2012 của Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Thành phố về Tặng Bằng khen của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho các tập thể và cá nhân có thành tích xuất năm 2012
Chương trình số 31 /MTTW- BTT ngày ngày 20 tháng 11 năm 2012
Chương trình số 31 /MTTW- BTT ngày ngày 20 tháng 11 năm 2012 của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện Chỉ thị số 18/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và khắc phục ùn tắc giao thông"
Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 17 tháng 09 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”
Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2012 về Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tố cáo
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 11 năm 2012
Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2012 về Quy định chi tiết một số điều của Luật khiếu nại

Giá Vàng

ĐVT: tr.đồng/lượng
Loại Mua Bán
Nguồn: Sacombank - SBJ

Tỷ giá

(Nguồn: EXIMBANK)