Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Liên kết web

Tiện ích

Thăm dò ý kiến

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

1
5
3
9
7
3
6

SỐ LƯỢT ĐANG ONLINE

0
0
0
0
1
4
6
Hỏi Đáp Pháp Luật Thứ 6, Ngày 05/08/2016, 17:25

MỘT SỐ NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA LUẬT TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG

Luật Tổ chức chính quyền địa phương được xây dựng trên cơ sở sửa đổi toàn diện Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 cho phù hợp với tinh thần Hiến pháp năm 2013.

Ngày 19/6/2015 tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII với tỷ lệ phiếu tán thành là 85,22 % đã thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương (Luật 2015). Luật này đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 và các chủ trương, định hướng của Đảng về chính quyền địa phương; đồng thời kế thừa những nội dung hợp lý và sửa đổi, bổ sung các bất cập, vướng mắc trong 12 năm thực hiện Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 (gọi là Luật 2003). Luật gồm 8 chương và 143 điều, tăng 2 chương và 3 điều so với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003.

Dưới đây là 10 điểm mới nổi bật của Luật Tổ chức chính quyền địa phương:

1. Thứ nhất, về đơn vị hành chính

Luật Tổ chức chính quyền địa phương xác định các đơn vị hành chính gồm có tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương; xã, phường, thị trấn và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.

Như vậy, so với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã bổ sung thêm đơn vị hành chính: thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Đây là quy định nhằm cụ thể hóa Điều 110 Hiến pháp năm 2013.

2. Thứ hai, về tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính

Điều 4 Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định cấp chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Chính quyền địa phương ở nông thôn gồm chính quyền địa phương ở tỉnh, huyện, xã. Chính quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộc trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phường, thị trấn.

Như vậy, sau một thời gian dài thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường theo Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội, Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã quy định cấp chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính đều phải có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.

Ngoài ra, một trong những điểm mới nổi bật của Luật Tổ chức chính quyền địa phương so với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 đó là có sự phân biệt giữa chính quyền địa phương ở nông thôn và ở đô thị, phù hợp với đặc điểm kinh tế, địa lý, dân cư, kết cấu hạ tầng và yêu cầu quản lý ở mỗi địa bàn.

3. Thứ ba, về nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương

a. Đối với Hội đồng nhân dân: Luật quy định rõ hơn về cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân tạo cơ sở pháp lý để củng cố, hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp.

- Về cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân:

+ Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương được thành lập thêm Ban đô thị vì đây là những đô thị tập trung, có quy mô lớn, mức độ đô thị hóa cao và có nhiều điểm đặc thù khác với các địa bàn đô thị thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

+ Về số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh từ 95 đại biểu lên 105 đại biểu để phù hợp với quy mô dân số, đặc điểm, tính chất của các đô thị lớn này (Điều 39). Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện (số lượng là 2) và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã (số lượng là 1) hoạt động chuyên trách; Trưởng các Ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện có thể hoạt động chuyên trách; Phó Trưởng Ban Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện hoạt động chuyên trách; Trưởng, Phó Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã hoạt động kiêm nhiệm.

b. Đối với Ủy ban nhân dân:

- Về cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân, nếu như trước đây, theo quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, không phải người đứng đầu của các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân nào cũng là ủy viên của Ủy ban nhân dân thì đến Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã mở rộng cơ cấu tổ chức Ủy ban nhân dân theo đó tất cả người đứng đầu của các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân đều là ủy viên của Ủy ban nhân dân.

Đây là quy định nhằm phát huy trí tuệ tập thể của các thành viên Ủy ban nhân dân, tăng cường hiệu lực giám sát của Hội đồng nhân dân đối với Ủy ban nhân dân cùng cấp thông qua cơ chế lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu.

- Về số lượng Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp được quy định theo phân loại đơn vị hành chính, theo đó:

+ Đối với đơn vị hành chính cấp tỉnh loại đặc biệt (thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh) có không quá 05 Phó Chủ tịch, loại I có không quá 04 Phó Chủ tịch, loại II và loại III có không quá 03 Phó Chủ tịch.

+ Đối với đơn vị hành chính cấp huyện loại I có không quá 03 Phó Chủ tịch, loại II và loại III có không quá 02 Phó Chủ tịch.

+ Đối với đơn vị hành chính cấp xã loại I có không quá 02 Phó Chủ tịch, loại II và loại III có 01 Phó Chủ tịch.

Ngoài ra, Luật còn bổ sung Điều 124 quy định về việc điều động, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cho phù hợp với quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Chính phủ.

4. Thứ tư, về việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính

Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định khi có trên 50% tổng số cử tri trên địa bàn đồng ý với đề án thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính thì cơ quan xây dựng đề án mới được hoàn thiện đề án, trình Hội đồng nhân dân các cấp thông qua chủ trương. Luật còn bổ sung quy định về thẩm quyền đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính và giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính giữa các đơn vị hành chính. Theo đó:

- Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính cấp tỉnh; đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính cấp tỉnh; giải quyết tranh chấp liên quan đến địa giới đơn vị hành chính cấp tỉnh.

+ Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã; đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã; giải quyết tranh chấp liên quan đến địa giới đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã.

5. Thứ năm, về tiêu chí, tiêu chuẩn thành lập Ban dân tộc của Hội đồng nhân dân

Là vấn đề rất cụ thể, liên quan đến việc bảo đảm thực hiện chính sách dân tộc chung của cả nước cũng như ở từng địa phương nơi có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống, cần phải được tiếp tục xem xét, cân nhắc kỹ thêm. Do đó, để có thời gian nghiên cứu kỹ lưỡng, luật quy định Quốc hội giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định cụ thể tiêu chí, tiêu chuẩn thành lập Ban dân tộc của Hội đồng nhân dân.

6. Thứ sáu, Trưởng các Ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện có thể hoạt động chuyên trách, Phó Trưởng Ban Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện hoạt động chuyên trách. Trưởng, Phó Ban của Hội đông nhân dân cấp xã hoạt động kiêm nhiệm. Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện (số lượng là 2) và Phó Chủ tịch Hội động nhân dân cấp xã (số lượng là 1) hoạt động chuyên trách.

- Về các Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã, đây là quy định mới, gồm Ban pháp chế và Ban kinh tế - xã hội, Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các thành viên khác của Ban của Hội đồng nhân dân hoạt động kiêm nhiệm; Trưởng ban không nằm trong Thường trực Hội đồng nhân dân nên không dẫn đến tăng biên chế và bộ máy ở cấp xã. Luật quy định Thường trực Hội đồng nhân dân phê chuẩn Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân theo đề nghị của Trưởng ban; Hội đồng nhân dân chỉ tiến hành bầu Trưởng ban, Phó Trưởng ban.

- Ban đô thị của Hội đồng nhân dân chỉ tổ chức ở thành phố trực thuộc trung ương vì đây là những đô thị tập trung, có quy mô lớn, mức độ đô thị hóa cao và có nhiều điểm đặc thù khác với các địa bàn đô thị đơn lẻ khác là thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

7. Thứ bảy, cơ cấu Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Trưởng các Ban và Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân; Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện gồm Chủ tịch, hai Phó Chủ tịch và Trưởng các Ban của Hội đồng nhân dân.

Luật cũng quy định rõ cơ cấu tổ chức chính quyền địa phương ở nông thôn, đô thị và hải đảo, vùng kinh tế xã hội đặc biệt.

8. Thứ tám, về cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân

Một điểm mới đáng chú ý khác là luật đã bổ sung những điểm mới nhằm quy định chi tiết hơn về số lượng, cơ cấu thành viên Ủy ban nhân dân, nguyên tắc hoạt động của Ủy ban nhân dân; phiên họp Ủy ban nhân dân; phạm vi, trách nhiệm giải quyết công việc của các thành viên Ủy ban nhân dân. Theo đó, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân có những nội dung mới. Trong đó, nổi bật là việc quy định số lượng Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp theo phân loại đơn vị hành chính.

Cụ thể, đối với cấp tỉnh, thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có không quá 5 Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; các thành phố trực thuộc Trung ương còn lại và các tỉnh loại I có không quá 4 Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; tỉnh loại II và loại III có không quá 3 Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân. Đối với cấp huyện, loại I có không quá 3 Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; loại II và loại III có không quá 2 Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân. Đối với cấp xã, loại I có không quá 2 Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, loại II và loại III có 1 Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân.

Theo quy định của Luật, thì cơ cấu Ủy ban nhân dân bao gồm người đứng đầu của các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân nhằm phát huy trí tuệ tập thể của các thành viên Ủy ban ban nhân dân, tăng cường hiệu lực giám sát của Hội đồng nhân dân đối với Ủy ban nhân dân cùng cấp thông qua cơ chế lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu. Thành phần của Ủy ban nhân dân các cấp gồm người đứng đầu các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân và quy định rõ 01 Ủy viên phụ trách quân sự và 01 Ủy viên phụ trách công an để phụ trách về các lĩnh vực hoạt động quan trọng này ở địa phương.

9. Thứ chín, phân định thẩm quyền giữa trung ương, địa phương và giữa các cấp chính quyền.

Một trong những điểm mới của luật là phân định thẩm quyền giữa trung ương, địa phương và giữa các cấp chính quyền nhằm cụ thể hóa Điều 112 Hiến pháp năm 2013.

Theo đó, để tạo cơ sở pháp lý cho việc phân quyền, phân cấp, ủy quyền cho chính quyền địa phương, Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã quy định các nguyên tắc phân định thẩm quyền, các trường hợp phân quyền, phân cấp, ủy quyền. Cụ thể:

- Có 6 nguyên tắc về phân định thẩm quyền gồm: Bảo đảm quản lý nhà nước thống nhất về thể chế, chính sách, chiến lược và quy hoạch đối với các ngành, lĩnh vực; bảo đảm tính thống nhất, thông suốt của nền hành chính quốc gia. Phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương. Kết hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ, phân định rõ nhiệm vụ quản lý nhà nước giữa chính quyền địa phương các cấp đối với các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn lãnh thổ. Việc phân định thẩm quyền phải phù hợp điều kiện, đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và đặc thù của các ngành, lĩnh vực. Công việc liên quan đến phạm vi từ hai đơn vị hành chính cùng cấp trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của chính quyền cấp trên, trừ trường hợp Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nghị định của Chính phủ có quy định khác. Nguyên tắc cuối cùng là chính quyền địa phương được bảo đảm nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được phân quyền, phân cấp.

- Về phân quyền, Luật quy định việc phân quyền cho các cấp chính quyền địa phương phải được quy định trong các luật; chính quyền địa phương tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền.

- Về phân cấp, Luật quy định căn cứ vào yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình cụ thể khác của địa phương, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được quyền phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện một cách liên tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Việc phân cấp phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước thực hiện phân cấp.

- Về ủy quyền, Luật quy định trong trường hợp cần thiết, cơ quan hành chính nhà nước cấp trên có thể ủy quyền bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp dưới hoặc cơ quan, tổ chức khác thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong khoảng thời gian xác định kèm theo các điều kiện cụ thể.

10. Thứ mười, quy định nhiệm vụ, quyền hạn đặc trưng của chính quyền đô thị

Luật đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính theo hướng chủ yếu tập trung ở cấp tỉnh, giảm dần xuống cấp huyện đến cấp xã để tránh tình trạng dồn việc về cấp cơ sở mà không tính đến khả năng đáp ứng của từng cấp chính quyền; nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở địa bàn nông thôn tập trung thực hiện quản lý theo lãnh thổ; ở địa phương đô thị chú trọng thực hiện quản lý theo ngành, lĩnh vực.

Luật quy định chung về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương phải thực hiện như tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn; quyết định những vấn đề của địa phương trong phạm vi được phân quyền, phân cấp; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền...

Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trên các lĩnh vực nhằm thể hiện rõ sự gắn kết chặt chẽ, thống nhất giữa hai thiết chế Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân hợp thành chính quyền địa phương.

Đặc biệt, luật đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn đặc trưng của chính quyền đô thị nhằm thể hiện sự khác biệt với chính quyền nông thôn. Theo đó, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở thành phố, thị xã ngoài việc quyết định các vấn đề của địa phương như đối với địa bàn nông thôn, còn tập trung quyết định các vấn đề quy hoạch phát triển đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị, quản lý và tổ chức đời sống dân cư đô thị...

Bên cạnh đó, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương quận và phường đã được điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu quản lý thống nhất, liên thông trong khu vực nội thành, nội thị tại các đô thị. Cụ thể, ngoài việc thực hiện chức năng đại diện và giám sát theo quy định chung, tập trung thực hiện 2 nhóm nhiệm vụ liên quan đến việc quyết định các vấn đề ở địa phương gồm: thông qua ngân sách quận, phường theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và bầu nhân sự của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp.

Trên đây là một số nội dung chủ yếu của Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

ThS. TRẦN HỮU NGHĨA


Số lượt người xem: 2Bản in Quay lại
Xem theo ngày:
Khánh thành “Không gian văn hóa Hồ Chí Minh” tại Chùa Hoằng Linh, xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi
Sáng ngày 11.11.2022, Ủy ban MTTQ Việt Nam Huyện Củ Chi phối hợp với Chùa Hoằng Linh tại xã An Nhơn Tây tổ chức Lễ ra mắt “Không gian văn hóa Hồ Chí Minh.
Hệ thống Mặt trận Q3 phối hợp các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng trên địa bàn Quận xây dựng Không gian Văn hóa Hồ Chí Minh
Sáng ngày 11/11/2022, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Quận 3, Phường 11 phối hợp chùa Hưng Phước tổ chức Lễ ra mắt Không gian văn hóa Hồ Chí Minh tại chùa Hưng Phước
Quận 11 tổ chức lễ ra mắt “Thư viện sách nói”
Sáng ngày 31/10/2022, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quận đã tổ chức lễ khánh thành và ra mắt “Thư viện sách nói”. Cùng đến tham dự với buổi lễ có Ông Đỗ Thanh Binh – Quận uỷ viên, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Quận uỷ; ông Đào Thanh Long – Uỷ viên Ban Thường vụ Quận uỷ, Chủ tịch Uỷ ban MTTQ Việt Nam quận; ông Lâm Viên Đức – Phó chủ tịch Thường trực cuàng cán bộ, chuyên viên cơ quan Uỷ ban MTTQ Việt Nam quận và Chủ tịch Uỷ ban MTTQ Việt Nam 16 phường.
Khánh thành “Không gian văn hóa Hồ Chí Minh” tại các cơ sở Tôn giáo và Hội quán đồng bào Hoa
Sáng ngày 28/10, tại Hội quán Tuệ Thành và chùa Thiên Tôn, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Quận 5 tổ chức khánh thành “Không gian văn hóa Hồ Chí Minh”.
Văn bản mới cập nhật
Hướng dẫn số 13/HD-UBMT-BTT ngày 26 tháng 11 năm 2012 của Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Thành phố về Tặng Bằng khen của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho các tập thể và cá nhân có thành tích xuất năm 2012
Chương trình số 31 /MTTW- BTT ngày ngày 20 tháng 11 năm 2012
Chương trình số 31 /MTTW- BTT ngày ngày 20 tháng 11 năm 2012 của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện Chỉ thị số 18/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và khắc phục ùn tắc giao thông"
Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 17 tháng 09 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”
Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2012 về Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tố cáo
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 11 năm 2012
Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2012 về Quy định chi tiết một số điều của Luật khiếu nại

Giá Vàng

ĐVT: tr.đồng/lượng
Loại Mua Bán
Nguồn: Sacombank - SBJ

Tỷ giá

(Nguồn: EXIMBANK)